Các loại thuốc hiếm

Công dụng chữa bệnh của bồ công anh

Đãc tính thực vật và dinh dưỡng
Bồ công anh con gọi Bồ công anh thấp, Sưnha, Bồ công anh Trung Quốc (Tarax­acum officinale hoặc Taraxacum mongolicum), tránh lầm với Bồ công anh VN (Lactuca indica), cùng thuộc họ Cúc (Asteraceae). cỏ đa niên nhơ rễ phù to duới đất chứ không có thân. Lá chụm xoay tron quanh gốc sát đất. Phiến lá láng, xẻ thùy sầu, hình răng nên con gọi là Sưnha (Dent-de-lion). Hoa hình đầu, màu vàng tươi trông cũng đẹp. Hoa kết trái, khi già chín thì biến thành một trái cầu lông trắng tròn, óng ánh trông cũng rất dẹp (xem hình) và khi trái khô, gặp gió sẽ bung ra bay khắp noi nhơ hột có chùm lông bom trắng.
Hoa Bồ công anh là nguyên liệu đê làm một loại bia dân gian ở Canada hay cũng có thể làm thành một loại ruợu chát đồng quế gọi là rươu chát Bồ công anh (Dandelion wine).
Lá Bồ công anh có nhiều chất bổ dưõng, gần gấp đôi rau Xà lách.
Người Pháp và nguòi Nam Mỹ ăn lá Bồ công anh non khi cồn màu xanh lục (hơi đắng) vì lá già ăn đắng. Họ ăn một mình lá Bồ công anh hay trộn vói các rau khác thành món xà lách.
Rễ Bồ công anh đem rang và xay dùng thê cà phê (không cafein).
Câu chuyện chữa được nốt ruồi nghi ngơ ung thư đã làm chúng tôi giật mình vì chua bao giơ nghe đến tính chất này, nên phải đi tìm trong các sách duọc thảo và các trang web của Viện y khoa quốc gia Hoa Kỳ. Điều cần chú ý là trong khi Trung Quốc dùng lá làm duọc liệu thì người châu Âu lại thích dùng rễ và cho các hoạt chất trị liệu có nhiều ừong thân rễ hơn.
Thành phần hóa học
Sesquiterpen có trong lá và rễ và có tính lọi tiểu, giải độc. Chất này cũng làm nhuận mật. Commis­sion E của Đúc công nhận chỉ định của Bồ công anh là thuốc lợi tiểu, bổ gan, nhuận mật. Điều cần chú ý là cao cồn làm nhuận mật trong khi cao nuóc lại không có tính này. Sự khác biệt này được giải thích là rễ cây tuoi có chứa inulin tan trong cồn (alcohol), trong khi rễ già và phoi khô inulin cứng lại, không hoa tan trong nước, do đó mất tính nhuận mật. Inulin cũng có tính hạ đuờng huyết.
Tác dụng của Bồ công anh cũng tùy thuộc mùa thu hoạch, muốn trị bệnh gan hay giúp tiêu hóa, nên thu hoạch trong tháng 10 và 11, khi ng ngùng phát triển, và inulin sẽ có nhiều trong rễ cùng vói các chất đuòng khác. Đến mùa xuân, cây ra lá nên rễ nhỏ đi, chứa ít inulin, nhung lại có nhiều taraxacin và các hoạt chất dạng tan trong nuóc, nên tác dụng lọi tiểu giải độc sẽ mạnh han.
Các nghiên cúv đvọc nêu trong thv viện y khoa Hoa Kỳ thu thập
– Mủ của rễ Bồ công anh chứa serine proteinase, taraxalicin (cao nhất trong tháng 4 dương lịch), thủy phân peptid Gly-ala-Ala-Leu-Phe tối ưu ởpH 8. Đặc tính giống cucumisin và macruralisin. Gốc N tận cùng tương tự subtilisin. (Rudenskaya 1998).
– Cấy tinh thể vảy màu đỏ chiết từ Bồ công anh trên dĩa cấy môi truờng giàu cytokinin và ánh sáng tạo ra màu an- thocyanin, phân chất là cyanidin 3-(6- malonylglucosid) và có tính chalcone synthase. (Akashi 1997).
– Luteolin 7-glucosid và chrysoeriol đuợc cô lập từ Bồ công anh. Các acid
hydroxycinnamic, chicoric, monocaffeyltartaric và chlorogenic đuọc tìm thấy trên toan cây Bồ công anh và coumarin, cichoriin và aes- culin trong dịch chiết của lá Bồ công anh. (Williams 1996).
– Chất gây dị úng khi tiếp xúc với Bồ công anh là acid taraxinic 1-0- betađ-glucopyranoside. (Hausen 1982).
– Fructoiuranosidase trong rễ Bồ công anh. (Rutherford 1972).