Các loại thuốc hiếm

Phương pháp phân biệt thảo quả với các loại thuốc khác

Thảo quả còn đuọc gọi là Đb ho, Sa nhân cóc (Amomum tsao-ko Crév. & Lem.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Căn hành ngầm duói đất mọc lên những thân giả to, cao vài mét. Hoa mọc từ gôc (căn hành) duới đất. Hoa đỏ nâu, trái có 3 buồng chứa nhiều hột có tử y rất tham. Thảo quả đuọc trồng hoặc mọc hoang ở vùng khí hậu mát vùng cao từ 1.000 -1.500 mét: Hoàng Liên Son, Hà Giang, Lào Cai…
Nguòi nội trợ có thể ra tiệm tạp hóa ở chợ hoặc hiệu thuốc đông y để mua Thảo quả làm gia vị khi chê biến thúc ăn (để nguyên trái cho vầo nấu chung vói thịt, cá
cho thơm đồng thoi có tác dụng trợ tiêu hóa, thêm vào bánh kẹo, ngâm ruọu…).
Đông y cho rằng Thảo quả có mùi thơm nồng, vị cay, tính ấm. Tác dụng táo thấp, kiện tỳ, tiêu thực, trừ đàm, trừ hàn. Dùng trị sình bụng, khó tiêu, buồn nôn, đau ngực, nặng chân, tiêu chảy. Liều dùng 4 – 6 g /ngày sắc uống hoặc nấu vói thúc ăn.
Ngậm nuốt nuóc từtừchũa hôi miệng, viêm nuớu, đau răng.
Khi đi mua “Thảo quả”, nguòi bán có thể đưa cho bạn những trái Sa nhân, o quầy tạp phẩm khác, có thể là mấy trái Đậu khấu! Thực ra, trong đông y hay thuốc nam, vị Sa nhân, Đậu khấu cũng có nhiều lẫn lộn. Có luong y cbn cho rằng nhục Đậu khấu là nạc trái của Đậu khấu!
Trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi cũng viết: Vấn đề Sa nhân và Đậu khấu hiện nay rất khó giải đáp chính xác. Với những tên đó, nguôi ta dùng trái của nhiều loài cây khác nhau thuộc họ Gùng… Tên gọi con hỗn loạn…